
Lời mở đầu
Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng Tham mưu Công an nhân dân, nhóm chúng tôi thực hiện bài làm này nhằm tri ân các thế hệ cán bộ tham mưu và khẳng định vai trò chiến lược của lực lượng trong suốt tám thập kỷ qua. Với tinh thần đổi mới và ứng dụng khoa học – công nghệ, bài làm thể hiện trách nhiệm, tâm huyết và quyết tâm góp phần lan tỏa giá trị truyền thống, đồng thời phản ánh tư duy hiện đại hóa trong công tác tham mưu hôm nay.

Câu 1: Quá trình ra đời, phát triển và những thành tích, chiến công tiêu biểu của lực lượng Tham mưu CAND từ năm 1946 đến nay

Khai sinh trong bão táp cách mạng, định hình vai trò “cơ quan đầu não” (1946 – 1954)
Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền non trẻ đối mặt thù trong giặc ngoài: quân Tưởng ở miền Bắc, quân Pháp ở miền Nam, cùng các lực lượng phản động chống phá. Nội tình đất nước kiệt quệ, “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước bối cảnh đó, yêu cầu cấp bách là cần một “bộ não” chỉ huy thống nhất, nhạy bén để bảo vệ chính quyền. Ngày 18/4/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký Nghị định số 121/NĐ-NV, chính thức khai sinh hệ thống tổ chức Tham mưu CAND với Phòng Trinh sát ở Bộ và các Văn phòng Công an cấp kỳ, tỉnh.
Ngay sau khi thành lập, lực lượng Tham mưu lập chiến công đầu tiên: tham mưu phá vụ án Ôn Như Hầu (7/1946) – âm mưu đảo chính của Quốc dân Đảng cấu kết thực dân Pháp nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Bằng phân tích sắc sảo, Phòng Trinh sát dự báo chính xác kế hoạch của địch, tham mưu Bộ Công an ra đòn phủ đầu. Ta đột kích hơn 40 hang ổ, bắt trên 100 đối tượng, thu nhiều vũ khí, tài liệu, đập tan âm mưu lật đổ. Chiến công khẳng định vai trò “cơ quan đầu não”, khởi đầu truyền thống “trí tuệ đi trước” của lực lượng Tham mưu CAND.
Trong kháng chiến chống Pháp, cán bộ Tham mưu CAND vừa chiến đấu vừa trưởng thành vượt bậc. Sau Ngày Toàn quốc kháng chiến (12/1946), cơ quan Tham mưu theo Trung ương di chuyển lên chiến khu Việt Bắc, trở thành “bộ não di động” trong điều kiện thiếu thốn. Lực lượng duy trì chỉ đạo thông suốt, tham mưu bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não, các hội nghị trọng yếu như Hội nghị Trung ương 6 (1949), Đại hội Đảng II (1951), và bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo cấp cao. Những đóng góp thầm lặng nhưng quyết định ấy định hình rõ vị thế “cơ quan đầu não” không thể thiếu của lực lượng Công an.


Hình: Công an Hà Nội đã góp công lớn trong chuyên án phố Ôn Như Hầu


Tham mưu sắp xếp, bố trí các chiến sĩ Cảnh vệ và phục vụ bảo vệ Bác Hồ trên đường công tác tại đèo Khế (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) 10/1974

Lực lượng Tham mưu CAND trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975)
Hiệp định Genève 1954 tạm thời chia cắt đất nước, đặt ra nhiệm vụ lịch sử: vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thành hậu phương vững chắc, vừa chi viện cách mạng miền Nam đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Lực lượng CAND nói chung và cơ quan Tham mưu nói riêng đã phải “chia hai gánh sơn hà”, đảm đương sứ mệnh nặng nề ở cả hai miền Nam – Bắc. Ở miền Bắc, Tham mưu CAND tham mưu xây dựng thế trận an ninh nhân dân rộng khắp. Dưới sự chỉ đạo của Bộ, các phong trào “Bảo mật phòng gian” trong cơ quan, xí nghiệp và “Bảo vệ trị an” trong nhân dân được phát động, biến mỗi người dân thành một “tai mắt” của lực lượng an ninh. Nhờ mạng lưới nhân dân cảnh giác đó, từ 1961-1970 Công an đã đấu tranh triệt phá 78 toán gián điệp, biệt kích, bắt 463 tên và thu nhiều tấn vũ khí, khí tài do Mỹ-Diệm tung ra phá hoại miền Bắc. Trí tuệ tham mưu còn giúp chỉ đạo dập tắt kịp thời các vụ bạo loạn có vũ trang do địch kích động (như vụ Quỳnh Lưu, Nghệ An 1956 và Ba Làng, Thanh Hóa 1955), giữ vững ổn định hậu phương lớn bằng nghệ thuật kết hợp răn đe và vận động quần chúng. Điển hình, cuối năm 1959, lực lượng Tham mưu đã tham mưu cho Bộ mở chiến dịch trấn áp âm mưu phỉ ở Hà Giang: chủ động bao vây quân sự song song với công tác chính trị, kêu gọi đầu hàng. Kết quả chỉ trong 2 tháng, ta làm tan rã 1.112 tên phản loạn, tiêu diệt/bắt sống 152 tên, thu 335 khẩu súng, đập tan ý đồ địch lập căn cứ chống phá ở biên giới. Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cơ quan Tham mưu lại thể hiện vai trò tham mưu phòng thủ dân sự hiệu quả: phối hợp chặt chẽ với các ngành, tham mưu kế hoạch sơ tán người dân, bảo vệ các mục tiêu kinh tế – quốc phòng trọng yếu, triển khai lực lượng phòng không, phòng cháy chữa cháy... Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó, thiệt hại được hạn chế đáng kể; nhiều tấm gương chiến sĩ Công an hy sinh trong mưa bom bão đạn đã minh chứng cho hiệu quả của các phương án tham mưu kịp thời.
Ở miền Nam, lực lượng Tham mưu Bộ Công an hoạt động thầm lặng như một “viện nghiên cứu chiến lược” tại hậu phương, ngày đêm phân tích bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Các cơ quan tình báo, an ninh ngụy (CIA, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo…) cùng những chiến lược “bình định”, “chiêu hồi” của địch được nghiên cứu kỹ lưỡng. Hàng trăm tài liệu tuyệt mật do Tham mưu biên soạn đã được bí mật chuyển vào Nam, trở thành “cẩm nang” vô giá giúp An ninh miền Nam “biết địch biết ta”, chủ động đánh địch một cách sáng tạo, hiệu quả ngay trong sào huyệt của chúng. Nhờ chi viện chất xám đó, An ninh miền Nam đã đập tan vô số kế hoạch tình báo, gián điệp của Mỹ-ngụy, điển hình như năm 1973, tham mưu từ hậu phương đã giúp phát hiện và phá thành công kế hoạch gián điệp mang mật danh “Hải Yến 1, 2”, bắt gọn các toán biệt kích địch chuẩn bị tung ra miền Bắc. Song song, Tham mưu CAND tham mưu tổ chức chi viện nhân lực, vật lực quy mô lớn cho chiến trường B. Các kế hoạch tuyển chọn, đào tạo hàng vạn cán bộ công an ưu tú tại miền Bắc được triển khai, sau đó bí mật đưa từng đoàn cán bộ vượt Trường Sơn vào Nam. Công tác tham mưu tính toán tỉ mỉ từ chọn cung đường, lập trạm giao liên đến ngụy trang, bảo mật… nhằm đảm bảo hàng trăm tấn vũ khí, khí tài và trang bị thông tin được vận chuyển an toàn vào chiến trường. Những “dòng sông” chi viện lặng thầm này đã tăng cường sức mạnh to lớn cho An ninh miền Nam. Nhiều cán bộ tham mưu ưu tú từ Bắc xung phong “đi B”, mang theo kinh nghiệm và tri thức tích lũy, trở thành hạt nhân nòng cốt xây dựng hệ thống tham mưu trong Ban An ninh Trung ương Cục và Công an các khu, tỉnh miền Nam. Đặc biệt, lực lượng Tham mưu Tình báo đã góp phần kiến tạo và bảo vệ “con đường tình báo chiến lược” xuyên suốt cuộc kháng chiến. Bằng việc chọn lọc địa bàn, xây dựng “hộp thư chết”, trạm giao liên an toàn và cài cắm điệp viên xuất sắc vào tận cơ quan đầu não địch, ta thiết lập được mạng lưới điệp báo thâm nhập sâu trong lòng địch. Những tin tình báo chiến lược vô giá – từ kế hoạch “tìm diệt”, chương trình “bình định” đến thông tin về sự rệu rã của ngụy quân, ngụy quyền trước mùa Xuân 1975 – đều được cơ quan tham mưu tổng hợp, phân tích và báo cáo kịp thời lên Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Nhờ đó, Đảng ta đề ra những quyết sách lịch sử chính xác, với đỉnh cao là quyết định Tổng tiến công Mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam. Có thể nói, trong giai đoạn 1954-1975, lực lượng Tham mưu CAND đã trưởng thành vượt bậc cả về tổ chức lẫn lý luận. Năm 1957, Văn phòng Bộ Công an (cơ quan tham mưu Bộ) được thành lập, đánh dấu bước phát triển chính quy đầu tiên. Đến năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng thành lập Nha An ninh – cho thấy sự lớn mạnh của hệ thống an ninh, tham mưu ở miền Nam. Về mặt pháp lý, Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân (20/7/1962) được ban hành đã tạo khung pháp lý quan trọng, đồng thời các luận cứ khoa học về công tác công an trong chiến tranh nhân dân, công tác phản gián, bảo vệ an ninh kinh tế, tư tưởng… dần hình thành trong thực tiễn đấu tranh khốc liệt. Chính sự chuẩn bị căn cơ đó giúp lực lượng Tham mưu đủ tầm tham mưu những quyết sách chiến lược cho Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là kế hoạch bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, góp phần quyết định đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Lực lượng Công an nhân dân trong những năm đầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 1986)
Trước hết, Tham mưu đã đề xuất chủ trương củng cố chính quyền cách mạng và quản lý, cải tạo hàng triệu sĩ quan, binh lính, công chức chế độ cũ. Đây là quyết sách thấm nhuần tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh: “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, không kỳ thị trả thù mà khoan hồng hướng họ về phía nhân dân. Chính sách sáng suốt này vô hiệu hóa từ trong trứng âm mưu tập hợp lực lượng, phục thù của tàn dư địch, giúp tình hình nhanh chóng ổn định. Thứ hai, Tham mưu chỉ đạo đấu tranh quyết liệt làm tan rã các tổ chức phản động vũ trang còn lại. Tiêu biểu là tham mưu kế hoạch trấn áp FULRO ở Tây Nguyên, kết hợp linh hoạt giữa quân sự và vận động chính trị: kết quả bắt giữ hàng ngàn tên, triệt phá hàng trăm “chính quyền ngầm”, thu 2.712 khẩu súng các loại, đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của địch. Thứ ba, Tham mưu chủ động bóc gỡ mạng lưới tình báo gián điệp do Mỹ và tay sai cài lại, đồng thời khám phá và đập tan hàng trăm tổ chức phản động âm mưu gây bạo loạn sau giải phóng. Điển hình là chuyên án triệt phá tổ chức phản động “Mặt trận Quốc gia giải phóng Việt Nam” (1976-1977): ta bắt giữ 1.395 đối tượng, thu 147 tấn vũ khí, đập tắt từ trong trứng âm mưu gây bạo loạn lật đổ chính quyền non trẻ. Những chiến công liên tiếp đó đã ổn định căn bản tình hình an ninh chính trị xã hội trên cả nước trong vài năm đầu sau thống nhất.
Song song với an ninh chính trị, Tham mưu Cảnh sát triển khai nhiều kế hoạch lập lại trật tự xã hội sau chiến tranh. Dưới chỉ đạo của Bộ Công an, các địa phương mở nhiều cao điểm tấn công tội phạm, triệt phá hàng ngàn băng nhóm, tụ điểm tệ nạn xã hội. Tham mưu còn giúp lãnh đạo Bộ ban hành các quy định quản lý hộ khẩu, vũ khí – chất nổ, phòng cháy chữa cháy… góp phần lập lại kỷ cương trong các lĩnh vực then chốt. Đồng thời, lực lượng nghiên cứu thủ đoạn tội phạm mới, tham mưu xây dựng chuyên đề nghiệp vụ để toàn lực lượng chủ động phòng ngừa, đấu tranh trên phạm vi cả nước.
Đại thắng Mùa Xuân 1975 đem lại hòa bình, thống nhất nhưng cũng mở ra nhiều thách thức an ninh. Giai đoạn 1975–1986 là phép thử khắc nghiệt với trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, đặc biệt với lực lượng CAND. Hàng triệu quân nhân, tình báo chế độ cũ không dễ từ bỏ quyền lực, âm thầm chống phá. Hàng ngàn mạng lưới gián điệp, “chính quyền ngầm” được địch cài lại hoạt động bí mật. Tàn dư FULRO tiếp tục vũ trang gây rối ở Tây Nguyên. Việt Nam đồng thời đối mặt chiến tranh biên giới Tây Nam (chống Khmer Đỏ), biên giới phía Bắc (1979) và cấm vận kinh tế từ Mỹ, phương Tây. Trước tình hình đó, lực lượng Tham mưu CAND đã kịp thời tham mưu Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an ban hành các quyết sách ổn định an ninh trên toàn quốc.
Đỉnh cao trí tuệ và bản lĩnh của Tham mưu CAND giai đoạn 1981–1988 là Chuyên án CM12, cuộc đấu trí phản gián điển hình nhằm đập tan âm mưu xâm nhập vũ trang đường biển do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu, có ngoại bang hậu thuẫn. Thay vì hành động vội vàng, Tham mưu An ninh áp dụng chiến lược “tương kế tựu kế”: khống chế, cảm hóa gián điệp bị bắt, dùng họ đánh lừa sở chỉ huy địch. Trong 7 năm, địch gửi 18 chuyến xâm nhập đều bị ta kiểm soát hoàn toàn. Khi tên cầm đầu cao nhất bị dụ về nước, toàn bộ mạng lưới bị bắt mà không tốn một viên đạn. Chuyên án CM12 thể hiện nghệ thuật “cương quyết, khôn khéo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định trí tuệ, bản lĩnh Tham mưu CAND trong bảo vệ Tổ quốc


Hình ảnh của đối tượng Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh
Nhờ nỗ lực bền bỉ, trật tự an toàn xã hội được khôi phục, tạo môi trường ổn định cho Đảng và Nhà nước chuẩn bị bước vào thời kỳ Đổi mới. Giai đoạn 1975–1986, lực lượng Tham mưu CAND đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh giữ vững thành quả cách mạng, đập tan mọi âm mưu bạo loạn, đồng thời bảo vệ an ninh chính trị, ổn định xã hội. Chính sự ổn định đó là nền tảng để Đại hội VI (1986) khởi xướng công cuộc Đổi Mới. Đây cũng là giai đoạn rèn luyện nên thế hệ cán bộ tham mưu bản lĩnh, sắc bén, sẵn sàng bước vào chặng đường phát triển mới của đất nước.

Lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (1986 đến nay)
Bước sang thời kỳ Đổi Mới (từ 1986), Việt Nam đối mặt với những mặt trận an ninh phi truyền thống chưa từng có tiền lệ. Kẻ thù không còn hiện hữu công khai ngoài chiến tuyến mà ẩn mình sau chiêu bài “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… để phá hoại từ bên trong. Bên cạnh đó là sự trỗi dậy của các loại tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, khủng bố, công nghệ cao, cùng những rủi ro an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh trong bối cảnh hội nhập. Tình hình mới đòi hỏi lực lượng Tham mưu CAND phải có bước chuyển mình mạnh mẽ về tư duy – từ tham mưu tác chiến sự vụ sang tầm tham mưu chiến lược, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong môi trường an ninh nhiều biến động.
Nhạy bén trước thời cuộc, lực lượng Tham mưu CAND đã kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các hoạt động chống phá mới kiểu “chiến tranh không tiếng súng”. Trên cơ sở đó, tham mưu chỉ đạo lực lượng an ninh, tình báo phòng chống hiệu quả hàng trăm vụ xâm phạm an ninh quốc gia. Điển hình, những vụ gây rối ở Tây Nguyên (2001, 2004) và Mường Nhé, Điện Biên (2011) do các thế lực phản động bên ngoài (cầm đầu là Ksor Kok, v.v.) kích động tư tưởng ly khai, bạo loạn đã được giải quyết ổn thỏa. Cơ quan tham mưu đã cử cán bộ xuống sát cơ sở, phân tích thực tiễn và nhận thấy nguyên nhân không chỉ do địch xúi giục mà còn từ khoảng trống về kinh tế xã hội tại địa bàn. Từ đó, Tham mưu đề xuất chủ trương chiến lược: kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” (phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết đất đai, nâng cao dân trí) làm trọng tâm để giải quyết tận gốc bất ổn, song song với kiên quyết trấn áp kẻ cầm đầu, khoan hồng, cảm hóa người bị lôi kéo. Chủ trương đúng đắn này đã hóa giải triệt để mâu thuẫn, ổn định lâu dài vùng Tây Nguyên, làm thất bại âm mưu hình thành “Nhà nước Đê Ga” tự trị.
Trên mặt trận đấu tranh chống tội phạm, lực lượng Tham mưu CAND đã góp phần then chốt trong việc triệt phá nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức nguy hiểm, tầm vóc quốc gia. Tiêu biểu là vụ truy quét tập đoàn tội phạm Trương Văn Cam (Năm Cam, 2001-2002) – một “bố già” xã hội đen hoành hành những năm đầu 2000. Tham mưu Cảnh sát đã đề xuất thành lập Ban chuyên án đặc biệt, huy động điều tra viên tinh nhuệ từ Bộ và các địa phương, tiến hành quá trình điều tra công phu. Họ kiên trì thu thập, xâu chuỗi hàng trăm vụ việc, hàng ngàn trang chứng cứ để dựng nên bức tranh toàn cảnh về băng nhóm Năm Cam, từ những tên đàn em đến ông trùm, thậm chí vạch trần cả các “ô dù” bảo kê trong một số cơ quan nhà nước. Trên cơ sở đó, Tham mưu đề xuất kế hoạch phá án đồng loạt, bí mật: bắt giữ trước những mắt xích quan trọng để khai thác, rồi tổ chức tổng tấn công cùng một lúc vào toàn bộ tổ chức tội phạm. Kết quả, Năm Cam và hơn 60 đàn em bị bắt và sau đó nhận các án nghiêm khắc. Chiến công này chặt đứt “khối u” mafia lũng đoạn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào pháp luật, thể hiện rõ tinh thần “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm” như Hồ Chủ tịch từng căn dặn.
Cuộc chiến chống ma túy cũng là một trận tuyến nóng bỏng ghi dấu vai trò tham mưu nổi bật. Điển hình là chuyên án tiêu diệt hai trùm ma túy tại “thủ phủ ma túy” Lóng Luông (Vân Hồ, Sơn La) năm 2018. Hai đối tượng Nguyễn Thanh Tuân và Nguyễn Văn Thuận cố thủ trong những “boong-ke” kiên cố gài chất nổ, với hàng chục đàn em có vũ khí sẵn sàng tử thủ, khiến việc tiếp cận vô cùng nguy hiểm. Lực lượng Tham mưu đã phải xây dựng một phương án tác chiến đặc biệt chi tiết, chưa từng có tiền lệ. Ban chuyên án huy động hơn 300 cán bộ chiến sĩ tinh nhuệ (CSCĐ, đặc nhiệm, phòng chống ma túy, công an địa phương) bao vây nhiều vòng. Trước đó, công tác trinh sát địa hình được thực hiện kỹ lưỡng để xác định kết cấu “pháo đài” của địch, đồng thời kế hoạch dân vận cũng được tham mưu thực hiện: chính quyền vận động người dân trong bản sơ tán ra khỏi vùng nguy hiểm để bảo đảm an toàn tuyệt đối. Sau nhiều ngày kêu gọi đầu hàng không thành, lực lượng chức năng đã đồng loạt tấn công “boong-ke” của hai trùm ma túy. Kết quả, 2 tên cầm đầu bị tiêu diệt, nhiều tay chân bị bắt, toàn bộ ổ ma túy bị xóa sổ. Thắng lợi này minh chứng cho một kế hoạch tham mưu toàn diện, chu đáo, lường trước mọi tình huống để đạt mục tiêu với tổn thất bằng 0 cho dân thường và mức thấp nhất cho lực lượng.
Trong bối cảnh hội nhập, an ninh kinh tế nổi lên như mặt trận cam go, đặc biệt là cuộc chiến phòng chống tham nhũng, “giặc nội xâm” do Đảng phát động. Lực lượng Tham mưu, nhất là Tham mưu Cảnh sát, đã phát huy vai trò “bộ não” nòng cốt trong Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Họ nhìn nhận các đại án kinh tế không chỉ là vụ việc đơn lẻ, mà là triệu chứng của những “khối u ung thư” đang ăn mòn nền kinh tế quốc gia. Do vậy, Tham mưu đã chủ động nghiên cứu, cảnh báo từ sớm về các lỗ hổng cơ chế (đặc biệt trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng), đề xuất sửa đổi luật pháp nhằm phòng ngừa tội phạm kinh tế mới nảy sinh. Khi các vụ án xảy ra, họ kiên trì “soi chiếu” hàng ngàn trang hồ sơ, theo dõi dòng tiền phức tạp như đọc phim X-quang, xâu chuỗi những mắt xích tưởng rời rạc để truy ra tận “khối u nguyên phát” – tức kẻ chủ mưu và những sơ hở thể chế bị lợi dụng. Từ đó, Tham mưu đề xuất một kế hoạch “phẫu thuật” tổng thể: cắt bỏ khối u (xử lý triệt để tội phạm) nhưng phải đảm bảo các “bộ phận lành mạnh” của nền kinh tế không bị tổn thương. Minh chứng rõ nhất là đại án tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát – Ngân hàng SCB (2022). Vụ án này phanh phui một mạng lưới tội phạm tài chính – ngân hàng cực lớn, khi một tập đoàn lợi dụng sân sau thao túng rút ruột ngân hàng hơn 1 triệu tỷ đồng (xấp xỉ một nửa GDP cả nước), đe dọa sụp đổ hệ thống tín dụng. Trước nguy cơ đó, dưới sự tham mưu của lực lượng Công an, Ban Chỉ đạo đã thực hiện một “chiến dịch” điều tra khoa học, bài bản. Hàng trăm cán bộ tinh nhuệ được huy động, hàng vạn trang tài liệu được phân tích, dòng tiền phi pháp được truy vết qua vô số lớp vỏ doanh nghiệp. Khó khăn lớn nhất không chỉ ở thu thập chứng cứ, mà còn ở chỗ Tham mưu phải đề xuất cho Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước các giải pháp đồng bộ bảo vệ hệ thống ngân hàng và tâm lý người gửi tiền trong suốt quá trình phá án. Tinh thần “đốt lò” quyết liệt của Đảng kết hợp với phương án tham mưu đúng đắn (hài hòa giữa “cương” và “nhu”, giữa nghiệp vụ sắc bén và giải pháp kinh tế vĩ mô) đã giúp phá án thành công, chặn đứng “vòi bạch tuộc” tài chính thao túng nền kinh tế. Chiến công này đặt dấu mốc mới cho công tác bảo vệ an ninh kinh tế thời kỳ hội nhập, khẳng định pháp luật tối thượng: không một “đại án” nào, dù tinh vi đến đâu, có thể chiến thắng ý chí và trí tuệ của nhân dân ta.
Cùng với đó, Tham mưu CAND đã chủ động đón bắt thời cơ từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để hiện đại hóa công tác đảm bảo an ninh trật tự. Đội ngũ tham mưu chính là “kiến trúc sư trưởng” tham mưu cho Đảng, Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng 2018, tạo một “tấm khiên pháp lý” vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, Tham mưu đã đề xuất và triển khai quyết liệt Đề án 06 về ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử để chuyển đổi số quốc gia. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt đó, Việt Nam nhanh chóng xây dựng thành công Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cấp hơn 80 triệu thẻ Căn cước công dân gắn chip trong thời gian kỷ lục. Đây thực sự là một bước đột phá lịch sử trong quản trị quốc gia, xóa bỏ phương thức quản lý thủ công lạc hậu, đưa hoạt động của Chính phủ và xã hội sang kỷ nguyên số. Thành công của Đề án 06 vừa phục vụ hiệu quả công tác nghiệp vụ của ngành Công an, vừa mang lại tiện ích thiết thực cho hàng triệu người dân. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, trí tuệ của lực lượng Tham mưu càng được khẳng định khi họ tham mưu nhiều phương án linh hoạt, sáng tạo để “chống dịch như chống giặc”, góp phần kiểm soát dịch bệnh và đảm bảo an sinh xã hội.
Có thể thấy, trải qua chặng đường Đổi Mới và hội nhập, lực lượng Tham mưu CAND luôn đổi mới tư duy để giải quyết hiệu quả các bài toán an ninh phi truyền thống. Họ vừa tham mưu thắng lợi những vụ việc trước mắt, vừa chủ động đề xuất những chiến lược lâu dài, kiến tạo hành lang pháp lý, cơ chế, công nghệ… để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh đất nước ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng.

Bản chất và linh hồn của người chiến sĩ Tham mưu: “Mắt thấy sáu cõi, tai nghe mười phương”
Trong suốt 80 năm xây dựng và chiến đấu, lực lượng Tham mưu CAND đã hun đúc nên những phẩm chất riêng biệt của người chiến sĩ trên mặt trận thầm lặng. Nếu phải đúc kết “linh hồn” của người cán bộ tham mưu, có lẽ không gì xác đáng hơn câu cổ ngữ: “Mắt thấy sáu cõi, tai nghe mười phương” – hàm ý về khả năng quan sát toàn diện, phân tích đa chiều và dự báo sâu rộng của họ. Thật vậy, người làm tham mưu phải luôn nhìn xa trông rộng, nắm bắt tình hình trên mọi lĩnh vực (chính trị, kinh tế, xã hội…) và nghĩ đến tương lai để tham mưu đúng đắn, kịp thời.
Bốn chữ vàng truyền thống của lực lượng Tham mưu CAND là “Trung thành - Tận tụy - Mưu trí - Sáng tạo”, phản ánh hệ giá trị cốt lõi của họ. Trung thành ở đây không phải sự phục tùng mù quáng, mà là trung thành trên nền tảng trí tuệ – xuất phát từ hiểu biết sâu sắc đường lối của Đảng và quy luật vận động của xã hội. Tận tụy không chỉ là miệt mài cần cù, mà là cống hiến trọn vẹn tâm lực, trí lực cho sự nghiệp, trách nhiệm đến cùng với mỗi con số, mỗi nhận định tham mưu của mình. Mưu trí không phải mưu mẹo vụ lợi, mà là vận dụng khoa học, tư duy biện chứng để tìm ra cách hóa giải tình huống khó khăn – chính là khả năng “biến cái không thể thành có thể” bằng logic và sáng tạo. Cuối cùng, Sáng tạo là mạch sống của công tác tham mưu, đòi hỏi người cán bộ không bao giờ được ngủ quên trên chiến thắng. Họ luôn phải tìm lối đi mới cho vấn đề cũ, phát minh công cụ mới để đối mặt thách thức chưa từng có, nhờ đó tham mưu CAND không ngừng đổi mới và bắt kịp thời đại.
Có thể nói, người chiến sĩ tham mưu CAND vừa là nghệ sĩ bàn giấy, vừa là nhạc trưởng thầm lặng đứng sau mỗi chiến công. Họ thường “đi trước về sau”, âm thầm suy nghĩ lo toan trước mọi người và kết thúc công việc khi mọi người đã nghỉ ngơi. Là “bộ óc” của lực lượng, họ đọc nhiều nhất, nghĩ nhiều nhất, trăn trở nhiều nhất, và lắm khi cũng cô đơn nhất trên đỉnh cao tư duy chiến lược. Công tác tham mưu đòi hỏi họ sự tĩnh lặng phi thường giữa bộn bề sự vụ, biết gạt bỏ những xao động cảm xúc cá nhân để đạt đến tính khách quan, khoa học trong phân tích. Vinh quang của người tham mưu không nằm ở huân chương lấp lánh hay tiếng vỗ tay công khai, mà chính là một quyết định đúng đắn được ban hành, một nguy cơ được ngăn chặn từ sớm, mang lại bình yên cho nhân dân – dù đôi khi nhân dân còn không biết mình vừa được bảo vệ trước hiểm họa gì. Những chiến công tham mưu phần lớn là thầm lặng, nhưng lịch sử không quên sự đóng góp đó; sự bình yên của Tổ quốc hôm nay có dấu ấn mồ hôi, trí tuệ của bao thế hệ cán bộ tham mưu.
Để hoàn thành trọng trách “làm quân sư” cho Đảng và Ngành, người cán bộ tham mưu phải trải qua một “hành trình tu luyện” thực sự. Họ rèn cho mình một bản lĩnh kiên định, vững vàng, một phẩm chất “tẩy trần” về tư tưởng theo cách nói của Plato – nghĩa là tự gột rửa khỏi những tham vọng vật chất tầm thường, những cám dỗ quyền lực hay tư tưởng cục bộ, vụ lợi. Bởi chỉ một mảy may thiên kiến hay tư lợi len lỏi vào tư duy cũng có thể làm lệch lạc cả bản báo cáo tham mưu, dẫn tới quyết sách sai lầm gây hậu họa khôn lường cho đất nước. Hiểu rõ điều đó, các thế hệ tham mưu CAND luôn đặt kỷ luật tự thân nghiêm khắc lên hàng đầu. Họ không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy CAND như một kim chỉ nam rèn luyện bản thân. Có như vậy, “bộ não” của lực lượng Công an mới luôn giữ được sự trong sáng, minh mẫn cần thiết, đảm bảo cho mọi quyết sách tham mưu đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhờ những con người “vừa hồng, vừa chuyên” ấy, 80 năm qua lực lượng Tham mưu CAND đã lập nên biết bao chiến công vẻ vang, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng thưởng tập thể, cá nhân thuộc lực lượng Tham mưu CAND
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Huân chương Chiến công
Huân chương Bảo vệ Tổ quốc
Cờ thi đua và danh hiệu thi đua
Phần thưởng vinh dự khác: Lực lượng Tham mưu CAND hai lần vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng lẵng hoa khen thưởng. Ngoài ra, hàng trăm tập thể và hàng ngàn cá nhân trong lực lượng Tham mưu trên cả nước cũng đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý khác, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng.

Câu 2: Lực lượng Tham mưu Công an tỉnh Hưng Yên

Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của lực lượng Tham mưu CAND tỉnh Hưng Yên qua các thời kỳ
Năm 1945 – 1946: Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Công an tỉnh Hưng Yên được thành lập với tên gọi Ty Liêm phóng; đầu năm 1946 đổi tên thành Ty Công an Hưng Yên. Ty Công an Hưng Yên đã khẩn trương trấn áp các tổ chức phản cách mạng (Việt Quốc, Việt Cách, Tờ-rốt-kít...) hoạt động tại Mỹ Hào, Ân Thi..., trừng trị các đầu sỏ Việt Nam Quốc dân Đảng; đồng thời bảo vệ tuyệt đối an toàn cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội khóa I (tháng 01/1946).
Ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các lực lượng Công an toàn quốc thành Việt Nam Công an vụ. Tiếp đó ngày 18/4/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ban hành Nghị định số 121-NV quy định tổ chức Việt Nam Công an vụ với hệ thống Văn phòng từ Trung ương đến địa phương (Nha Công an, Sở Công an, Ty Công an). Đây là mốc đánh dấu sự ra đời của cơ quan và lực lượng Tham mưu CAND; từ năm 1998, ngày 18/4 hàng năm được quyết định là Ngày truyền thống của lực lượng Tham mưu CAND.
Tổ chức bộ máy qua các thời kỳ: Cơ quan tham mưu Công an Hưng Yên nhiều lần thay đổi tên gọi để phù hợp chức năng, nhiệm vụ từng giai đoạn: từng mang tên Văn phòng, Phòng Nghiên cứu tổng hợp, Văn phòng tổng hợp, Phòng Tham mưu tổng hợp, Văn phòng, và từ năm 2014 chính thức là Phòng Tham mưu Công an tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định số 3880 ngày 16/7/2014 của Bộ Công an). Dù thay đổi tên gọi, Phòng Tham mưu luôn là đơn vị tham mưu chuyên trách, giữ vai trò trung tâm thông tin chỉ huy của Công an tỉnh; đồng thời tại Công an các huyện, thành phố đều bố trí bộ phận tham mưu giúp việc đắc lực cho lãnh đạo đơn vị.
Giai đoạn đầu kháng chiến: Lực lượng Văn phòng Ty Công an Hưng Yên (tiền thân Phòng Tham mưu) từ thuở ban đầu đã phải đối mặt muôn vàn khó khăn về nhân lực, vật lực, hoạt động trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Tuy nhiên, các thế hệ cán bộ tham mưu đầu tiên đã quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ…”, nêu cao ý chí sắt đá và trí tuệ mẫn tiệp, tham mưu cho Đảng, chính quyền và lãnh đạo Ty Công an nhiều đối sách sắc bén, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ.
Quá trình phát triển: Trải qua 79 năm xây dựng và chiến đấu, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng ủy và Ban Giám đốc Công an tỉnh cùng sự phối hợp hiệu quả của các lực lượng, Tham mưu Công an Hưng Yên luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tổ chức bộ máy không ngừng được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề của thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ tham mưu luôn lấy Sáu điều Bác Hồ dạy làm kim chỉ nam, giữ vững phẩm chất “Trung với Đảng, hiếu với dân”, tận tụy, mưu trí, sáng tạo, xứng đáng là cánh tay phải đắc lực của Đảng ủy, lãnh đạo Công an tỉnh trong sự nghiệp bảo đảm an ninh trật tự địa phương.
Năm 2025, cải tổ mô hình tổ chức: Thực hiện chủ trương bỏ cấp trung gian (cấp huyện) theo Nghị quyết của Quốc hội và quyết định của Bộ Công an, lực lượng tham mưu đã kịp thời tham mưu triển khai mô hình Công an 2 cấp (tỉnh và xã) tại Hưng Yên từ 01/7/2025, đảm bảo việc chuyển giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về an ninh trật tự được thông suốt, không gián đoạn, phục vụ nhân dân tốt nhất.

Những thành tựu, đóng góp tiêu biểu của lực lượng Tham mưu CAND tỉnh Hưng Yên qua các thời kỳ
Giai đoạn 1946 – 1954 (Kháng chiến chống Pháp): Lực lượng tham mưu Công an Hưng Yên ngay từ những năm đầu đã thể hiện vai trò là “bộ óc” chiến lược kiên trung của Công an tỉnh. Cán bộ tham mưu tập trung nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch; kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và lãnh đạo Công an tỉnh những quyết sách linh hoạt, đánh bại mọi hoạt động tình báo, gián điệp và phá hoại của thực dân Pháp. Lực lượng tham mưu cũng phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chiến đấu, bộ đội địa phương và dân quân du kích, lập nên nhiều chiến công trong các trận đánh chống càn nổi tiếng (Trái Quýt, Trâu Lồng, Con Sứa, Trái Chanh…), góp phần cùng quân dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.
Giai đoạn 1954 – 1975: Miền Bắc sau năm 1954 bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn phải đối phó với nhiều âm mưu phá hoại. Lực lượng tham mưu đã tham mưu triển khai đồng bộ các biện pháp cứng rắn kết hợp nhân văn để quản lý, giáo dục cải tạo hàng nghìn đối tượng tề ngụy, gián điệp và tàn dư phản động; mở nhiều đợt “khoanh vùng trấn phản”, quét sạch cơ sở ngầm, triệt phá nhiều tổ chức phản động, giữ vững an ninh trật tự, tạo nền móng ổn định cho nhân dân sản xuất, xây dựng miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1972), cơ quan tham mưu bám sát diễn biến chiến trường, tham mưu đập tan mọi hoạt động gián điệp, tuyên truyền phá hoại và chiến tranh tâm lý của địch; đã thu giữ, tiêu hủy hàng trăm kg truyền đơn, bạc giả và vật phẩm tâm lý chiến do địch tung ra. Đồng thời, tham mưu đảm bảo an ninh kinh tế và trật tự xã hội ở hậu phương; bảo vệ tuyệt đối an toàn các tuyến giao thông huyết mạch để chi viện người và của cho chiến trường miền Nam; tổ chức sơ tán an toàn cho nhân dân và huy động tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến lớn. Đặc biệt, trong giai đoạn 1961–1975, Công an Hưng Yên đã tình nguyện điều động hơn 300 cán bộ, chiến sĩ vào Nam chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, hòa cùng đại thắng mùa Xuân 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Giai đoạn 1975 – 1985: Sau thống nhất, lực lượng Tham mưu Công an Hưng Yên tiếp tục khẳng định vai trò “trung tâm trí tuệ” nòng cốt trong công tác bảo đảm an ninh trật tự tại địa phương. Cơ quan tham mưu chủ động theo dõi, phân tích tình hình, kịp thời đề xuất với lãnh đạo Công an tỉnh các biện pháp đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch. Song song đó, đơn vị tham mưu đẩy mạnh công tác cải tạo xã hội: tham mưu giáo dục, cảm hóa các đối tượng lầm lỗi; xây dựng kế hoạch phòng ngừa, trấn áp tội phạm, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tính mạng, tài sản của nhân dân; tích cực bài trừ các tệ nạn xã hội, góp phần giữ vững ổn định phục vụ phát triển kinh tế. Với tinh thần “Giúp bạn là tự giúp mình”, Công an Hưng Yên còn chi viện 344 cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ các tỉnh biên giới phía Bắc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, tiếp tục tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng Tham mưu CAND.
Giai đoạn 1986 – 2010s: Bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập, đặc biệt sau khi tái lập tỉnh Hưng Yên (01/1997), tình hình an ninh trật tự xuất hiện nhiều vấn đề mới phức tạp. Lực lượng tham mưu đã không ngừng đổi mới tư duy, tổ chức và phương pháp công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đơn vị quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và lực lượng CAND, thực hiện nghiêm 6 điều Bác Hồ dạy, đẩy mạnh phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”, đồng thời chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền tăng cường cán bộ xuống cơ sở giải quyết các vấn đề an ninh nông thôn, khôi phục và củng cố phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ngay từ cơ sở. Nhờ đó, cơ quan tham mưu ngày càng chủ động nắm chắc mọi diễn biến, thiết lập mạng lưới thông tin rộng khắp, nâng cao chất lượng tổng hợp, phân tích, đánh giá; kịp thời tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Bộ Công an những giải pháp hiệu quả mang tầm quyết sách nhằm giải quyết ổn định các vấn đề an ninh, trật tự, giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn.
Từ 2015 đến nay: Lực lượng Tham mưu Công an tỉnh Hưng Yên đã gặt hái nhiều thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng trên mọi mặt công tác:
Công tác tham mưu chiến lược: Tham mưu ban hành hơn 300 văn bản, báo cáo chiến lược trình Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh – những văn kiện này đã trở thành kim chỉ nam để chỉ đạo hiệu quả các mặt công tác bảo đảm an ninh trật tự, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
Bảo vệ an ninh quốc gia: Chủ động đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp quản lý đối tượng trọng điểm theo phương châm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; kịp thời phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của các tổ chức phản động, giải quyết ổn thỏa các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp ngay tại cơ sở, không để bị động, bất ngờ hay hình thành tổ chức chính trị đối lập. Lực lượng tham mưu đã đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho hơn 70 đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế về thăm, làm việc tại Hưng Yên.
Giữ gìn trật tự, an toàn xã hội: Tham mưu Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an tỉnh ban hành nhiều chương trình, kế hoạch phòng chống tội phạm từ sớm, từ xa; nhờ triển khai quyết liệt, năm 2024 toàn tỉnh đã giảm 21,03% số vụ phạm tội về trật tự xã hội (vượt xa chỉ tiêu 5% đề ra). Đơn vị cũng tham mưu mở nhiều cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, xử lý vi phạm về môi trường, buôn lậu, gian lận thương mại. Đặc biệt, lực lượng tham mưu đã xây dựng và hướng dẫn thực hiện Đề án “Chuyển hóa, xây dựng xã, phường, thị trấn không có ma túy (2023–2025), tầm nhìn 2030”, thí điểm xây dựng huyện Kim Động sạch ma túy – đến nay toàn tỉnh đã chuyển hóa thành công 17 xã, phường, thị trấn không còn tệ nạn ma túy.
Đảm bảo trật tự công cộng: Tham mưu xây dựng phương án đấu tranh quyết liệt với nạn đua xe trái phép, gây rối trật tự của một bộ phận thanh thiếu niên. Được sự ủng hộ của nhân dân, lực lượng Công an đã phát hiện, xử lý hơn 400 trường hợp vi phạm, phạt tiền hơn 1,8 tỷ đồng, tạm giữ 366 phương tiện; khởi tố 5 vụ với 41 bị can, góp phần lập lại bình yên trên địa bàn.
Xây dựng lực lượng, ứng dụng công nghệ: Lực lượng tham mưu đi đầu trong tham mưu triển khai Nghị quyết số 12 của Bộ Chính trị và Kế hoạch 118/KH-CATW về xây dựng CAND “trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Công tác xây dựng cơ sở vật chất được chú trọng, đặc biệt đã tham mưu đẩy nhanh tiến độ xây dựng trụ sở công an xã, thị trấn. Đơn vị cũng sáng tạo khi nghiên cứu xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm “Quản lý chế độ đi địa bàn” cho Công an cấp xã, giúp khắc phục triệt để tình trạng buông lỏng quản lý địa bàn, hiện thực hóa phương châm “Ba nhất: nhanh nhất, cao nhất, hiệu quả nhất” trong công tác cơ sở.
Cải cách hành chính: Tham mưu ban hành nghị quyết chuyên đề về nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Nhờ các giải pháp quyết liệt, Chỉ số CCHC năm 2024 của Công an tỉnh Hưng Yên xếp loại Xuất sắc, đứng thứ 10/63 công an tỉnh, thành phố (tăng 25 bậc so với năm 2023) – minh chứng cho quyết tâm đổi mới hướng tới một nền hành chính phục vụ, hiện đại.
Phát động phong trào toàn dân: Tham mưu triển khai hiệu quả Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, tham mưu tổ chức lễ ra mắt trọng thể lực lượng này như “cánh tay nối dài” của Công an cấp xã. Đây là kênh thông tin và lực lượng nòng cốt giúp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia giữ gìn an ninh trật tự, đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ ANTQ ngay từ cơ sở, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.

Câu 3: Những yếu tố tác động và yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới đối với công tác tham mưu CAND nói chung hoặc đơn vị tham mưu của đơn vị trực thuộc đặc biệt trong bối cảnh đất nước bước vào kỳ nguyên phát triển đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu CAND trong tình hình mới

Các yếu tố tác động trong tình hình mới
Thay đổi cơ cấu hành chính: Năm 2025, Việt Nam xóa bỏ cấp huyện, tổ chức lại thành 34 tỉnh, thành phố và siêu đô thị trực thuộc Trung ương, mở ra một kỷ nguyên quản trị quốc gia tinh gọn, hiện đại. Sự chuyển mình lịch sử này đòi hỏi lực lượng Công an, đặc biệt là tham mưu, phải thay đổi tư duy quản lý cũ, thích ứng với mô hình chỉ huy mới từ tỉnh đến cơ sở. Đồng thời, nhiều chủ trương lớn của Đảng được ban hành (như Nghị quyết 57, 66, 68, 59 của Bộ Chính trị), tạo ra hành lang chiến lược mới mà tham mưu phải cụ thể hóa trong công tác của mình.
Thách thức an ninh phi truyền thống: Tình hình an ninh toàn cầu năm 2025 diễn biến phức tạp với sự xuất hiện của các loại tội phạm phi truyền thống cực kỳ tinh vi. Nổi bật là các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia (giả mạo việc nhẹ lương cao dụ người qua Campuchia) và giả danh cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thuế...) gọi điện lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, những “trại lừa đảo” ở Đông Nam Á gây thiệt hại hàng chục tỷ USD mỗi năm. Các loại tội phạm này tấn công trực diện vào lòng tin của nhân dân, gieo rắc nghi kỵ và sợ hãi, đe dọa “khối đại đoàn kết” dân tộc.
Chiến dịch chống “diễn biến hòa bình”: Việc tinh giản bộ máy hành chính (như bỏ cấp huyện) cũng bị các thế lực thù địch lợi dụng. Chúng không còn kêu gọi biểu tình công khai mà dùng thuật toán mạng xã hội tạo tin giả, xuyên tạc chủ trương mới (vu cáo “xóa cấp huyện làm tan rã hệ thống quản trị cơ sở”). Đây là mối nguy về tư tưởng khi thông tin xấu độc có thể lan truyền nhanh, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” âm ỉ.
Hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ: Biên giới địa lý mờ nhạt trong thời đại số khiến an ninh quốc gia gắn chặt với an ninh mạng và hợp tác quốc tế. Các cuộc tấn công mạng, thao túng tâm lý đám đông trên không gian số trở thành “chiến tranh không tiếng súng” đe dọa chủ quyền quốc gia. Bên cạnh đó, sự suy thoái về văn hóa, đạo đức xã hội (một số hiện tượng lệch chuẩn từ những người nổi tiếng như Hoa hậu Thùy Tiên, Quang Linh Vlog, Ngân 98, Lường Bằng…) đặt ra bài toán “an ninh văn hóa” đầy cam go. Tất cả bối cảnh trên đòi hỏi công tác tham mưu CAND phải nhạy bén nhận diện yếu tố tác động mới và chủ động có đối sách phù hợp.

Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác tham mưu
Đổi mới tư duy, xây dựng “bộ não số”: Lực lượng Tham mưu CAND phải chuyển hẳn sang tư duy chiến lược hiện đại, không thể dùng lối mòn kinh nghiệm cũ để giải các bài toán an ninh mới. Cần nhanh chóng hình thành “bộ não số” thông suệ, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu chuyển đổi số để xử lý thông tin và chỉ huy tác chiến. Như Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo, tham mưu phải “đổi mới mạnh mẽ tư duy, dám nhìn thẳng sự thật, định hình lại phương thức quản trị an ninh phi truyền thống”.
Hoàn thiện cơ chế chỉ huy thông suốt: Sau khi bỏ cấp trung gian, cần tham mưu ban hành ngay Quy chế Chỉ huy – Tham mưu trong điều kiện mới để mệnh lệnh từ Giám đốc Công an tỉnh truyền thẳng, không “gãy khúc” xuống Công an cấp xã. Mô hình “cụm an ninh liên xã” phải được pháp điển hóa, cùng với việc thành lập Trung tâm Chỉ huy tác chiến điện tử tích hợp AI tại mỗi địa phương. Đồng thời, tham mưu xây dựng “Bộ tiêu chí phân loại an ninh xã” chuẩn ISO để phân bổ nguồn lực khoa học, hiệu quả, đúng tinh thần lời dạy của Bác Hồ: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần, quyết tâm 30 phần”.
Chủ động trên mặt trận tư tưởng: Lực lượng tham mưu phải tiên phong “bút chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần đề xuất xây dựng “Hệ sinh thái truyền thông chủ quyền” để phủ xanh thông tin tích cực, chủ động áp đảo tin giả. Thành lập các “Tổ phản ứng nhanh 30 phút” về truyền thông nhằm ngay lập tức giải mã, bác bỏ luận điệu xuyên tạc trên mạng. Song song, tham mưu triển khai biện pháp “miễn dịch cộng đồng” trước tin xấu độc: đưa nội dung giáo dục kỹ năng nhận diện tin giả vào sinh hoạt khu dân cư, thực hiện lời dạy của Bác “Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận tuyên truyền”.
Tấn công tội phạm phi truyền thống: Công tác tham mưu cần mở mặt trận tổng lực chống các loại tội phạm mới. Trước hết, tham mưu tổ chức các chiến dịch truyền thông sâu rộng vạch trần thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao để người dân nâng cao cảnh giác, giữ vững lòng tin. Đồng thời, đề xuất Chính phủ đàm phán ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về tội phạm công nghệ với các nước trong khu vực, cho phép dẫn độ tội phạm trong 24 giờ. Tham mưu thiết lập các Văn phòng Sĩ quan liên lạc CAND thường trực ở nước ngoài để phối hợp đấu tranh nhanh. Đặc biệt, cần mạnh dạn đề xuất cơ chế trao quyền cho “Tổ công tác liên ngành 812” (gồm An ninh mạng, Cảnh sát Hình sự, Ngân hàng) được phong tỏa ngay lập tức tài khoản nghi vấn, chặn đứng dòng tiền nuôi tội phạm từ sớm, thực hiện quyết liệt chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân đến cùng”.
Chuyển hướng “phòng ngừa chủ động”: Tham mưu CAND phải chuyển từ tư thế ứng phó thụ động sang tấn công phòng ngừa. Cần khẩn trương tham mưu cho Đảng ủy Công an Trung ương xây dựng “Học thuyết An ninh dự báo” để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, coi dữ liệu là tài nguyên chiến lược ngang hàng với đất đai, khoáng sản. Lực lượng tham mưu phải là “nhạc trưởng” phối hợp dữ liệu giữa Bộ Công an và các Bộ Quốc phòng, Khoa học-Công nghệ, Văn hóa… nhằm tạo “lưới an ninh đa lớp” phát hiện, xử lý mọi mối nguy từ sớm, thể hiện phương châm “Sớm – Sắc – Chắc – Sâu”. Đây chính là cách vận dụng tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số: mục tiêu bảo vệ chế độ luôn kiên định, nhưng phương thức tác chiến phải linh hoạt, biến hóa dựa trên công nghệ cao.
Cụ thể hóa nghị quyết của Đảng: Là “phiên dịch viên” chuyển ý chí Đảng thành hành động, tham mưu cần chủ động đề xuất nhiều đề án lớn. Ví dụ, để thực hiện NQ 57 về khoa học công nghệ, cần tham mưu xây dựng Trung tâm Chiến lược Dữ liệu Tội phạm Quốc gia, biến số liệu khô khan thành vũ khí dự báo sắc bén. Thực thi NQ 66 về xây dựng pháp luật, phải chủ trì soạn thảo Luật Phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng, tạo khung pháp lý vững chắc. Đối với NQ 68 về phát triển kinh tế tư nhân, tham mưu thành lập Tổ công tác đặc biệt bảo vệ doanh nghiệp tại mỗi địa phương, hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo kinh tế quốc dân. Với NQ 59 về hội nhập quốc tế, tham mưu phải thể hiện rõ bản lĩnh “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, giữ vững chủ quyền số quốc gia trước mọi sức ép bên ngoài.
Đấu tranh giữ gìn an ninh văn hóa: Trước nguy cơ suy đồi đạo đức, lối sống do ảnh hưởng lệch lạc từ một bộ phận người nổi tiếng, tham mưu cần coi “an ninh văn hóa” là mặt trận không tiếng súng nhưng đặc biệt quan trọng. Phải nhạy bén tham mưu các biện pháp chấn chỉnh, định hướng dư luận kịp thời, phối hợp cùng các cơ quan văn hóa, giáo dục để bồi đắp “thế trận lòng dân” vững chắc về tư tưởng, đạo đức. Mục tiêu là xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh, đoàn kết, qua đó phòng ngừa từ gốc những mầm mống gây mất ổn định do “tự diễn biến” trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.

Câu 4: Quan điểm của đồng chí về vai trò, vị trí, sứ mệnh của lực lượng Tham mưu CAND trong kỷ nguyên mới. Kiến nghị, đề xuất của đồng chí để xây dựng lực lượng Tham mưu CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới?

Trung tâm thần kinh của lực lượng CAND: Bước vào kỷ nguyên mới với những biến chuyển rung chuyển bộ máy quản lý, lực lượng Tham mưu CAND được tái định vị từ chỗ chỉ là “cánh tay phải” hỗ trợ sang vai trò như “trung khu thần kinh” của hệ thống. Nếu ví tổ chức CAND như cơ thể sống, Lãnh đạo Bộ Công an là trái tim bơm máu, lực lượng chiến đấu là cơ bắp, thì Tham mưu chính là hệ thần kinh nhạy bén bao phủ, kết nối mọi bộ phận. Vị trí này mang tính sống còn: chỉ cần một tắc nghẽn hay sai lệch tín hiệu ở “giao điểm vàng” này, cả cỗ máy an ninh đồ sộ có thể vận hành trật hướng.
Tầm nhìn chiến lược, dự báo nhạy bén: Trong thời đại tốc độ thông tin lan truyền còn nhanh hơn ánh sáng, người làm tham mưu phải đứng ở đài quan sát cao nhất, “nhìn thấy bão khi trời còn trong” – tức dự báo sớm nguy cơ khi chưa ai nhận ra. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh là nắm bắt thời cơ, định đoạt tình huống; Clausewitz thì gọi tham mưu là “điểm quy tụ của trí tuệ nhà nước”. Thật vậy, người chiến sĩ tham mưu không còn là thư ký bàn giấy thụ động, mà là nhạc trưởng tư duy chiến lược ở tiền tiêu, biết nối quá khứ 80 năm hào hùng với tương lai số hóa biến động. Họ vừa là “kho ký ức” lưu giữ bài học lịch sử, vừa là “phòng thí nghiệm tương lai” ủ men những sáng kiến đột phá cho ngành.
Sứ mệnh “đi trước mở đường”: Kỷ nguyên mới mở ra vận hội lớn nhưng cũng đặt lên vai tham mưu trọng trách nặng nề. Như lời Napoléon Bonaparte cảnh báo: “mất tiền của là mất ít, mất danh dự là mất nhiều, nhưng mất can đảm và tư duy chiến lược là mất tất cả”. Lực lượng Tham mưu CAND phải giữ vững bản lĩnh đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm để tham mưu đúng và trúng, kịp thời chớp thời cơ. Sứ mệnh của tham mưu là tiên phong phát hiện vấn đề, đề xuất quyết sách sắc bén, “trí tuệ đi trước vạn quân” giúp lãnh đạo thắng lợi mà không cần tổn thất lớn. Trong 80 năm lịch sử CAND, tham mưu luôn là “những người vạch đường chỉ lối”, hội tụ trí tuệ và bản lĩnh, xứng đáng với truyền thống vàng “Trung thành - Tận tụy; Mưu trí - Sáng tạo; Đoàn kết - Lập công”.
Vai trò, vị trí, sứ mệnh của Tham mưu CAND trong kỷ nguyên mới

Kiến nghị, đề xuất xây dựng lực lượng Tham mưu CAND trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại
Đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ huy: Trước hết, cấp ủy và thủ trưởng Công an các cấp phải coi công tác tham mưu là “hơi thở” của chỉ huy, không phải khâu hành chính phụ trợ. Việc quán triệt Nghị quyết 10-NQ/ĐUCA và Chỉ thị 09/CT-BCA-V11 về nâng cao chất lượng tham mưu cần đi vào thực chất, thể hiện trong mọi quyết định tác chiến hằng ngày. Người đứng đầu phải thường xuyên đặt hàng những bài toán chiến lược khó cho cơ quan tham mưu, tạo môi trường khuyến khích tư duy phản biện sáng tạo. Chỉ khi đó tham mưu mới thật sự trở thành “bộ não tinh anh” trợ lực đắc lực cho lãnh đạo.
Nâng tầm đội ngũ cán bộ tham mưu: Mỗi cán bộ, chiến sĩ tham mưu phải tự “lột xác” trở thành “người trinh sát của tư duy” – luôn chủ động nắm bắt thông tin, không chờ lệnh. Sứ mệnh “Đi trước, mở đường” đòi hỏi họ nuôi dưỡng đam mê nghề nghiệp, rèn sự nhạy bén của nhà chính trị đi cùng tính tỉ mỉ của nhà khoa học. Tính chuyên nghiệp phải được xem là một phẩm chất danh dự: mọi đề xuất trình lãnh đạo đều phải được chuẩn bị công phu, cân nhắc thấu đáo cả tình và lý, đảm bảo “Sớm – Sắc – Chắc – Sâu”.
Tăng cường kết nối, hiệp đồng: Sức mạnh của tham mưu hiện đại nằm ở sự kết nối. Cần xóa bỏ tư duy cục bộ, hình thành “hệ sinh thái tham mưu liên kết” chặt chẽ trong và ngoài ngành. Lực lượng tham mưu công an phải phối hợp đồng bộ với tham mưu quân đội và các ban, bộ, ngành khác, tạo thành mạng lưới tình báo – tham mưu xã hội rộng khắp. Khi các “ốc đảo” thông tin được kết nối liên thông, phân tích – đánh giá tình hình sẽ chính xác, toàn diện hơn, giúp Đảng, Nhà nước có cái nhìn tổng thể để hoạch định chủ trương lớn về an ninh, đối ngoại, kinh tế, xã hội.
Hiện đại hóa công tác thông tin, dự báo: Xử lý thông tin và dự báo chiến lược phải được nâng tầm thành nghệ thuật quản trị tương lai. Tham mưu cần chấm dứt lối tổng hợp manh mún, chuyển sang phân tích tập trung, chuyên sâu. Sản phẩm tham mưu phải có hàm lượng trí tuệ cao, phát hiện vấn đề mới, dự báo sớm nguy cơ để tham mưu giải pháp từ xa, từ sớm. Mỗi báo cáo, kế hoạch phải “sống” và có ích, tránh tình trạng chất đống trên giấy. Tham mưu cũng cần xây dựng cơ chế “Bản tin tham mưu mỗi sáng” để đồng bộ hóa nhận thức trong toàn lực lượng, cũng như hệ thống lưu trữ chia sẻ tri thức nhằm giữ lửa truyền thống, tiếp nối kinh nghiệm giữa các thế hệ cán bộ.
Xây dựng lực lượng “vừa hồng, vừa chuyên”: Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng trong tham mưu phải thật sự được coi trọng. Cần có cơ chế tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tham mưu kỹ lưỡng như “đãi cát tìm vàng”. Hướng tới mẫu hình cán bộ tham mưu thế hệ mới hội đủ ba phẩm chất: “pháp luật chắc” (giỏi về pháp chế để giữ vững kỷ cương), “nghiệp vụ sắc” (tinh thông nghiệp vụ để thắng được kẻ địch) và “đắc nhân tâm” (lấy được niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân). Mỗi cán bộ tham mưu phải là một “pháo đài” kiên cố trước mọi cám dỗ lợi ích nhóm; giữ vững tính “trong sạch” về chính trị, tư tưởng, đạo đức như một “tấm khiên” bảo vệ bản lĩnh và ngòi bút thẳng ngay.
Đầu tư hiện đại hóa và chế độ chính sách: Cuối cùng, để lực lượng tham mưu “tinh nhuệ, hiện đại”, cần mạnh dạn đầu tư hạ tầng công nghệ và có chính sách đãi ngộ xứng đáng. Không thể dùng công cụ lạc hậu đối phó tội phạm công nghệ cao; do vậy ưu tiên trang bị thiết bị, phần mềm tối tân từ cuộc CMCN 4.0 cho tham mưu là đầu tư chiến lược cho an ninh quốc gia, không phải lãng phí. Khi trí tuệ người tham mưu được chắp cánh bởi công nghệ hiện đại và được tiếp sức bởi chế độ đãi ngộ hợp lý, lực lượng Tham mưu CAND sẽ thực sự trở thành “trung tâm thần kinh” khỏe mạnh, minh mẫn, điều phối nhịp nhàng mọi hoạt động. Đó chính là bệ phóng đưa con thuyền an ninh Việt Nam vượt sóng dữ, cập bến thắng lợi trong kỷ nguyên vươn mình.

Câu 5: Bài học kinh nghiệm hoặc một kỷ niệm đẹp, câu chuyện ấn tượng sâu sắc nhất đối với đồng chí trong công tác tham mưu hoặc phối hợp với lực lượng Tham mưu trong thực hiện nhiệm vụ được giao?

Kỷ niệm đẹp, câu chuyện ấn tượng sâu sắc về công tác tham mưu
Thượng úy Nguyễn Hải Anh, Bí thư Chi đoàn Phòng Tham mưu Công an tỉnh Hưng Yên, được khắc họa như một hình mẫu tiêu biểu trong phong trào “Ba nhất”, không chỉ tiên phong trong chuyển đổi số với phần mềm E-Office và mô hình quản lý đoàn viên, mà còn luôn làm việc thầm lặng, tỉ mỉ đến tận đêm khuya để không một thủ tục nào của người dân bị chậm trễ. Từ tấm gương của anh có thể thấy rõ vai trò sống còn của công tác tham mưu trong lực lượng Công an — không phải khâu hành chính phụ trợ mà là “hơi thở” của chỉ huy, đòi hỏi cấp ủy và người đứng đầu phải coi trọng đúng mức, giao nhiệm vụ chiến lược và khuyến khích tư duy phản biện sáng tạo. Đội ngũ cán bộ tham mưu vì thế cần được nâng tầm, trở thành những “người trinh sát của tư duy” chủ động nắm bắt thông tin, làm việc chuẩn mực theo phương châm “Sớm – Sắc – Chắc – Sâu”, đồng thời tăng cường kết nối, hiệp đồng liên ngành để phá bỏ những “ốc đảo” thông tin, giúp phân tích và dự báo tình hình toàn diện hơn phục vụ Đảng, Nhà nước trong hoạch định chính sách. Công tác tham mưu hiện đại cũng phải được hỗ trợ bởi hệ thống thông tin và dự báo chiến lược chuyên sâu, với sản phẩm có giá trị thực tiễn, tránh hình thức và chất đống trên giấy. Đi đôi với đó là xây dựng đội ngũ “vừa hồng, vừa chuyên”, tuyển chọn và rèn luyện cán bộ kỹ lưỡng, bảo đảm vững vàng về pháp luật, sắc bén về nghiệp vụ và biết tạo dựng niềm tin với nhân dân. Cuối cùng, để lực lượng tham mưu thật sự tinh nhuệ, cần đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ hiện đại và có chế độ đãi ngộ xứng đáng, bởi chỉ khi trí tuệ con người được chắp cánh bằng công nghệ và được bảo vệ bằng chính sách phù hợp, tham mưu Công an nhân dân mới trở thành “trung khu thần kinh” minh mẫn, điều phối hiệu quả mọi hoạt động và góp phần giữ vững an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Bài học kinh nghiệm rút ra
Câu chuyện về Thượng úy Nguyễn Hải Anh là minh chứng sống động cho những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác tham mưu CAND hiện nay. Trước hết là tinh thần đổi mới, sáng tạo – anh không ngừng cải tiến, dám nghĩ dám làm, luôn chủ động ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả công việc, tránh tư duy trì trệ. Thành công của anh trong chuyển đổi số nhấn mạnh rằng trí tuệ và sáng tạo chính là chìa khóa để tham mưu luôn “đi trước một bước”. Bên cạnh đó, sự tận tụy và trách nhiệm vì Nhân dân thể hiện qua những đêm thức trắng bên bàn phím, âm thầm cống hiến để “vì dân không phải chờ đợi”. Dù không được biết đến rộng rãi, anh vẫn lặng thầm làm việc tỉ mỉ, hiện thực hóa lời dạy “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Hơn nữa, Hải Anh còn là tấm gương sáng về tinh thần nhân văn, gần dân, sẵn sàng hy sinh: từ việc lội nước cứu dân đến nhường khẩu phần ăn cho người già, tất cả đều bắt nguồn từ tình yêu thương chân thành, coi nỗi đau của dân như của chính mình. Đặc biệt, anh còn là người truyền lửa cho thế hệ trẻ với phong cách chính quy, kỷ luật chặt chẽ và bản lĩnh vững vàng trước mọi biến động. Chính sự tự giác và tác phong mẫu mực đã giúp anh sẵn sàng xung trận trong mọi tình huống, trở thành hình mẫu cán bộ tham mưu “Kỷ luật nhất, Trung thành nhất, Gần dân nhất”. Những phẩm chất đáng quý này là hành trang không thể thiếu để xây dựng lực lượng Tham mưu CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.




































